Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2017

VUI VỚI NGƯỜI VUI

Anh Phêrô Hồ Thanh Tâm, con ông Phêrô Hồ Văn Hóa và bà Maria Phạm Thị Tịnh (thuộc giáo xứ Hiệp An - Giáo phận Phan Thiết) đã cử hành bí tích hôn phối với chị Maria Huỳnh Thị Thanh Nhàn, con ông Gioan Huỳnh Văn Luận và bà Matta Hoàng Thị Hạnh (thuộc giáo xứ Bình An - Giáo Phận Phan Thiết) tại nhà thờ Bình An vào lúc 19g00 ngày 03/11/2017.
Giáo xứ xin chia vui và cầu chúc đôi bạn sống hạnh phúc trong tình yêu của Thiên Chúa.

Thứ Năm, 2 tháng 11, 2017

THÁNH LỄ CẦU CHO CÁC ĐẲNG LINH HỒN TẠI NGHĨA TRANG GIÁO XỨ

HÌNH ẢNH GẦN ĐÂYVào lúc 18g00 ngày 02/11/2017, tại Nghĩa trang Giáo xứ Bình An đã diễn ra thánh lễ cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời.

XEM HÌNH

Trước đó, để chuẩn bị cho việc lãnh ơn toàn xá, vào lúc 19g00 ngày 31/10/2017, Cha quản xứ Anrê đã tổ chức một buổi giải tội cho bà con giáo dân. Ngài đã mời thêm sáu cha khách (đến từ dòng Xitô Châu Thủy và Tu đoàn Anh Em Bác Ái Xã Hội) để tạo điều kiện tốt nhất cho bà con giáo dân đến với bí tích Hòa giải. Đó là chuẩn bị về mặt thiêng liêng.
Về mặt bên ngoài, trước đó một thời gian, giáo xứ đã chuẩn bị các công tác dọn dẹp khuôn viên nghĩa trang cho xứng hợp hơn với sự tham gia của nhiều gia đình. Đồng thời với sự quảng đại của một số ân nhân, giáo xứ đã làm được một khu vực giữ xe và khoảng sân trước lễ đài để tổ chức thánh lễ được khang trang hơn.
Với những sự chuẩn bị cả bên ngoài lẫn bên trong, năm nay thánh lễ tổ chức tại Nghĩa trang Giáo xứ đã diễn ra một cách long trọng và trang nghiêm với sự tham dự đầy sốt mến của đông đảo bà con giáo dân.

Chủ Nhật, 29 tháng 10, 2017

KIỆU ĐỨC MẸ - BẾ MẠC THÁNG MÂN CÔI

Vào lúc 19g00 Chúa nhật ngày 29/10/2017, toàn thể giáo xứ Bình An đã long trọng rước kiệu Đức Mẹ để bế mạc tháng Mân côi.

XEM HÌNH

Tham dự buổi rước kiệu có Cha quản xứ Anrê, Thầy xứ, Quý dì, quý HĐMV, Quý các hội đoàn cùng đông đảo bà con giáo dân.
Với tinh thần sốt sắng và lòng yêu mến Đức Mẹ, buổi rước kiệu đã diễn ra một cách đầy trang nghiêm và thành kính với những chuỗi hạt trên tay mọi người cùng với lời kinh mà Mẹ đã truyền dạy.
Sau khi lần hạt xong, giới hiền mẫu giáo xứ đã thay mặt cho mọi người dâng lên Mẹ những điệu múa tri ân và ca khen vì những ơn lành Mẹ vẫn ban cho đoàn con cái.
Và để kết thúc, Cha quản xứ Anrê cũng không quên nhắc nhở cộng đoàn rằng hãy thực thi lời Mẹ đã truyền dạy cách đây 100 năm tại Fatima, đặc biệt là việc lần chuỗi mân côi.

CHÚA NHẬT 30 THƯỜNG NIÊN A

Phúc Âm: Mt 22, 34-40
"Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi, và yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, những người biệt phái nghe tiếng Chúa Giêsu đã làm cho những người Sađốc câm miệng, thì họp nhau lại, đoạn một người thông luật trong nhóm họ hỏi thử Người rằng: "Thưa Thầy, trong lề luật, giới răn nào trọng nhất?"
Chúa Giêsu phán cùng người ấy rằng: "Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Ðó là giới răn thứ nhất và trọng nhất. Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy là: Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi. Toàn thể Lề luật và sách các Tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó".
Ðó là lời Chúa.
   Suy Niệm:
  Qua bài Tin Mừng hôm nay, Ðức Giêsu đã tóm tắt cả các giới luật quy về hai điều quan trọng: mến Chúa - yêu người. Phải yêu Chúa toàn vẹn con người chúng ta; và yêu tha nhân như chính mình. Trong tương quan với Chúa, nhiều khi chúng ta đến với Ngài để thỏa mãn nhu cầu của chúng ta mà thôi. Chúng ta tính toán với Chúa từng giây từng phút. Còn với anh em, chúng ta hẹp hòi, khó tha thứ. Lời Chúa hôm nay cật vấn chúng ta, chúng ta có suy nghĩ gì?
   Cầu Nguyện:
  Lạy Chúa, xin dạy chúng con luôn ý thức rằng mọi sự đều là của chúa và tất cả những gì chúng con có đều do Chúa ban. Xin ban cho chúng con luôn nhận ra tình yêu của Chúa đối với chúng con, để chúng con biết đáp trả tình Chúa bằng trái tim yêu mến thâm sâu, và sống quảng đại chia sẻ tình thương Chúa cho những anh em đang cần chúng con giúp đỡ. Amen.


Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

LỊCH SỬ CỨU ĐỘ

Lịch Sử Cứu Độ, Bài 8Bài 8

PHỤC HƯNG CỘNG ĐOÀN DO THÁI VÀ NHỮNG CHUẨN BỊ CUỐI CÙNG
(Sách Edra, Khacgai và Zacaria)

Bài trước chúng ta đã thảo luận về thời gian lưu đày vừa như một hình phạt của tội lỗi mà Thiên Chúa dành cho dân bất trung, bội tín của Ngài vừa như một thử thách hữu ích. Hồi Hương được trình bày như một cuộc xuất hành mới mà Thiên Chúa qua việc tác động trên Vua Cyro, dẫn dân Ngài từ đất lưu đày trở về Đất đã được hứa ban. Bài này thảo luận thế nào việc những người hồi hương phục hưng quốc gia và tôn giáo của họ, những thanh luyện cuối cùng và giai đoạn chót của mạc khải Cựu Ước.

1. PHỤC HƯNG CỘNG ĐOÀN DO THÁI
a. Phục hưng quốc gia

- Sau sắc chỉ của Vua Cyro, không phải tất cả dân Israel bị lưu đày đều trở về quê hương. Không ít người trong số họ đã tìm thấy cuộc sống của mình trên miền đất mới nên họ không tham gia đoàn người hồi hương.

- Những người hồi hương mang theo ước mong phục hưng lại quốc gia, dân tộc và tôn giáo của họ.

- Lịch sử ghi lại 3 đợt hồi hương:

Đợt 1 xảy ra vào năm 538 ngay sau khi sắc chỉ của Cyro được ban hành, dưới sự hướng dẫn của Zorobabel và một nhóm nhỏ (Edra 1,5-2,67). Công việc của nhóm này, trước hết, xây một bàn thờ để tái lập lại các hy lễ công khai dâng lên Giavê Thiên Chúa. Hai năm sau, họ bắt đầu tái thiết đền thờ nhưng công việc dường như không đạt kết quả mong muốn (Edra 3) do những khó khăn cả bên ngoài và bên trong (xem Khacgai 1,4; Edra 4,1; 2 V 17,24-28)[1].

Đợt 2 và 3 vào khoảng năm 520 TCN được dẫn dắt bởi Zerubabbel, một viên chức chính quyền và thượng tế Joshua, được trợ giúp bởi hai ngôn sứ là Khacgai và Zacaria (Edra 5,1), họ tiếp tục công việc tái thiết đền thờ. Kết quả đền thờ đã được hoàn tất và cung hiến vào năm 515 TCN[2]. Sau đó, tường hành Giêrusalem cũng được hoàn thành dưới sự giúp đỡ của một quan chức dưới triều vua Artaxerxes II là Nêhêmia. Công cuộc tái thiết đất nước đã hoàn tất tốt đẹp.

b. Cuộc Phục Hưng tôn giáo do Edra và Nơkhêmia thực hiện: tập trung vào việc học biết và thực hành lề luật; các sinh hoạt phụng vụ trong các cộng đoàn, đặc biệt phụng vụ hội đường; giữ luật ngày Sabat, các vấn đề liên quan đến hôn nhân dị giáo, khác đạo (Edra 9,1-4; 10,1-44; Ne 10,31). Đặc biệt hơn cả là việc thiết lập Thượng Hội Đồng Tối Cao bao gồm Thượng Tế, Kinh Sư và Kỳ Lão để lãnh đạo cộng đoàn.

Tuy được tự do về tôn giáo, dân Do Thái vẫn lệ thuộc đế quốc Ba Tư về phương diện chính trị mãi tới năm 331 khi đế quốc Hy Lạp kiểm soát vùng đất của họ.

2. THỬ THÁCH CUỐI CÙNG

a. Thảm họa mất đạo
Bắt đầu từ năm 198 TCN, sau khi dòng họ Xơlucô đánh bại dòng Ptolemeo[3], đã thực hiện chính sách Hy Lạp hóa. Lợi dụng sự chia rẽ giữa thành phần theo Hy Lạp và những người trung thành với tôn giáo và lề luật của cha ông, Antiocho Epiphane 4 (175-164) đã thực hiện cuộc bách hại tàn khốc: mở đầu bằng việc cướp của đền thờ (1 Mac 1,16), dâng kính đền thờ ở Garizin và Giêrusalem cho thần Zeus; cấm dân cắt bì; bắt dân phạm lỗi ngày Sabat và luật Môsê. Hơn nữa, Antiocho cho dựng tượng thần trên bàn thờ tế lễ và các nơi công cộng trên đất Do Thái và bắt dân dâng cúng thần ngoại. Ông cũng ra lệnh xé và đốt sách Luật. Bất cứ ai vi phạm sẽ bị giết chết (2 Mac 10,5). Sách Macabe cho thấy tinh thần đức tin của dân Chúa: sẵn sàng chết để trung tín với lề luật và truyền thống của cha ông (2 Mac 6,18-31; 7,1-42).

b. Cuộc kháng cự vũ trang
Ban đầu là tư tế Matthia, nhưng nổi bật hơn cả là anh em dòng họ Macabe. Giuđa Macabe dành chiến thắng, tiến vào Giêrusalem và dâng lễ thanh tẩy đền thờ sau 2 năm kháng cự vũ trang. Gionathan tiếp tục cuộc chiến sau khi Giuđa Macabe tử trận và đảm nhận chức Thượng tế và lãnh đạo cộng đoàn. Ông mở rộng bờ cõi và xây dựng lại đất nước trước khi tử trận vào 143. Simon tiếp tục đưa đất nước tới sự tự do hoàn toàn mãi cho đến năm 63 TCN, khi Pompe đem quân tiến vào Palestine để giải quyết tranh chấp nội bộ giữa những người Biệt Phái và Nhóm Saduceo và kết thúc quyền tự do chính trị của cộng đoàn Do Thái.

3. NHỮNG CHUẨN BỊ CUỐI CÙNG

a. Giá trị và giới hạn của lề luật
Ơn cứu độ là một hồng ân nhưng không của Thiên Chúa chứ không là kết quả của việc suy tôn hay thực thi lề luật. Lề luật để giúp con người đi sâu hơn vào mối quan hệ giao ước với Thiên Chúa như là “Chúa của dân và dân là dân của Người”  và với người khác như anh em, bởi đó, khi con người quá chú trọng vào lề luật, coi lề luật như cứu cánh của đời sống đức tin, họ sẽ không thể đạt tới sự công chính hoàn hảo là chính Thiên Chúa.

Cũng vậy, coi việc thực thi lề luật là phương thế đạt tới ơn cứu độ, con người có nguy cơ quên mất hồng ân nhưng không và lòng từ bi xót thương của Thiên Chúa. Chính nhờ những suy tư của các bậc khôn ngoan sau thời lưu đày đã đưa tâm hồn và nguyện vọng của dân đi xa hơn những giới hạn của lề luật để đạt tới sự công chính và lòng từ bi của Thiên Chúa.  

b. Vấn đề thưởng phạt và sự sống đời sau
Đây là một tiến trình dài và có thể chia thành các giai đoạn như sau:

Ban đầu người Do Thái chưa tin có sự thưởng phạt đời sau. Với họ, sự thưởng phạt của Thiên Chúa diễn ra ở ngay đời này và là sự thưởng phạt tập thể (Xh 20,5; Ds 16,32; 2 Sm 24; Gs 9). Bởi thế, mọi người, không phân biệt kẻ lành người dữ, sau khi chết đều ở một nơi gọi là Sheol (Gv 9,10). Người khổ cực coi đây như một sự giải thoát, trong khi người công chính đau khổ vì mình không còn được ca tụng Thiên Chúa nữa (Tv 6,6; 115,17; 88,11-13). Tuy nhiên, quan niệm này đối diện với vấn nạn rằng tại sao những người công chính lại bị chết sớm, ví dụ, cái chết của vua Giosia (2 Sb 35,20) trong khi kẻ gian ác lại được sống hạnh phúc (Khabacuc 1,13).

Sự thưởng phạt bây giờ là cá thể và thực hiện ở đời này. Hai tiên tri (Gr 31) và (Ed 18) đã loan báo về một sự thưởng phạt cá nhân ngay ở đời này. Tuy nhiên, sách các Thánh vịnh 128; 112; 127; sách Giop 21,7-15 và Giảng viên 8,14 và 9,2 chỉ cho thấy những người công chính lại chịu đau khổ, bách hại và cái chết trong khi kẻ dữ lại được hạnh phúc và phú quý giàu sang.

Câu trả lời cuối cùng chính là đau khổ, bất hạnh của người công chính và hạnh phúc, giàu sang của kẻ ác chỉ là chóng qua ở đời này. Sự thưởng phạt công bình tuyệt đối không ở đời này nhưng ở đời sau. Người công chính sẽ được ban thưởng hạnh phúc đời sau còn kẻ gian ác sẽ bị khốn khổ trong “địa ngục” (Hades) (xem các sách Thánh Vịnh, Macabe, Đaniel và Khôn Ngoan).

Kết luận
Cộng đoàn Do Thái sau hồi hương được củng cố không chỉ bởi kinh nghiệm lưu đày mà còn được trải qua thử thách, bách hại tàn khốc dưới ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp. Hơn thế nữa, nhờ tiếp cận với văn hóa và sự khôn ngoan của Hy Lạp, niềm tin vào sự thưởng phạt của dân Chúa đã đạt tới đỉnh cao của nó. Tất cả mọi chuẩn bị dường như đã sẵn sàng để “thời viên mãn” như ánh bình minh đã ló rạng và Mặt Trời Công Chính từ chốn cao vời viếng thăm và cứu chuộc nhân loại.




[1] Một vài người hồi hương bận tâm với những nhu cầu và sự thoải mái của họ hơn là việc tái thiết đền thờ. Cũng có những chống đối từ dân địa phương. Một nhóm quan trọng của những người hồi hương tuyên bố rằng công việc tái thiết đền thờ đã có sự trợ giúp của Cyro và Cambyses. Nhóm khác được nhận dạng như “những đối thủ của Giuđa và Bengiamin (Edra 4,1) đã dâng tặng sự giúp đỡ của họ, khẳng định rằng họ cũng đã là những người tôn thờ Yahweh, mặc dù họ đã định cự ở Miền Bắc Israel (2 V 17,24-28) bởi người Assiry, tuy nhiên, dâng tặng của họ bị từ chối dứt khoát. Nhóm thứ ba được mệnh danh “những con người của đất”, một kiểu nói trong khoảng thời gian này dùng để chỉ những người Giuđa không bị đưa đi lưu đày. Họ cố gắng dùng ảnh hưởng của mình với triều đình Ba Tư để phá vỡ công cuộc tái thiết (The Old Testament: A historical, literary Introduction to the Hebrew Scriptures, Michael Coogan, 416-417).

[2] Đền thờ này thường được gọi là đền thờ thứ hai (Second Temple) và “Khoảng thời gian của đền thờ thứ hai” trong lịch sử Do Thái kéo dài từ thế kỷ 6 TCN đến năm 70 SCN – khi đền thờ Giêrusalem bị tàn phá. Đền thờ đầu tiên được xây dựng bởi vua Salomon vào năm 966 và bị phá hủy bởi vua Nabucodonosor vào năm 587 TCN. Hêrôdê Cả (37-4) đã cho kiến thiết lại cung thánh và tiền đường vào năm 20-19 trước khi nó bị thiêu cháy bới quân lính Roma vào năm 70 SCN.

[3] Ban đầu, người Do Thái nằm dưới sự kiểm soát của dòng họ Ptolemeo (323-200). Người Do Thái vẫn được tự do về tôn giáo như trước đây. Trong khi dòng họ Xơluco lại thực hiện chính sách Hy Lạp hóa – bắt những dân lệ thuộc phải từ bỏ nhận dạng của họ để sống như một người Hy Lạp, kể cả mặt tôn giáo.


Lm Augustino Nguyễn Đức Lợi

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Press Release Distribution