Thứ Ba, 24 tháng 10, 2017

CÙNG HỌC GIÁO LÝ - THÁNG 10.2017

Bài số 12

NHIỆM VỤ CƠ BẢN THỨ SÁU CỦA GLV:
KHAI TÂM CHO VIỆC TRUYỀN GIÁO

1. Truyền giáo là sứ mệnh cơ bản của Hội Thánh
Thiên Chúa muốn mọi người được cứu độ (x. 1 Tm 2,3-4). Trước khi về Trời, Chúa Giêsu đã truyền cho các Tông đồ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ” (Mc 16,15-17; Mt 28,19-20).
Loan báo Tin Mừng là loan báo Đức Giêsu Kitô. Ngài chính là Tin Mừng cho toàn thể nhân loại. Chính sứ thần của Chúa đã nói với các mục đồng rằng: “Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân; hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Ngài là Đấng Kitô Đức Chúa” (Lc 2,10-11).
Khi đi rao giảng, bởi vậy, các Tông đồ chỉ nhằm giúp người ta tin vào Đức Giêsu:  “Vậy toàn thể nhà It-ra-en phải biết chắc điều này: Đức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô… Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô để được ơn tha tội…” (Cv 2,35-37). Cũng thế, khi viết Tin Mừng thành sách, các tác giả cũng chỉ nhằm một mục đích trên: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa” (Mc 1,1); hoặc: “Những điều ghi chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và khi anh em tin thì anh em được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,30-31).

2. Việc dạy giáo lý phải được đặt trong viễn tượng loan báo Tin Mừng
Hội Thánh thi hành sứ mệnh loan báo Tin Mừng bằng nhiều hình thức khác nhau (nhưng liên kết chặt chẽ với nhau), như: loan báo, làm chứng, huấn giáo, các bí tích, yêu tha nhân, thâu nạp môn đệ … (HDTQDGL 1997,46), và việc dạy giáo lý là một trong những hoạt động nhằm thi hành sứ vụ loan báo Tin Mừng (HDTQDGL 2017, 36).
Thật vậy, “mục đích tối hậu của việc dạy giáo lý là làm cho con người không những tiếp xúc, mà còn được hiệp thông với Chúa Giêsu Kitô; nhờ đó, con người được kết hợp với Chúa Cha, với Chúa Thánh Thần, với Hội Thánh, và với nhân loại” (HDTQDGL 2017, 39).
Qua việc dạy giáo lý, vì thế, GLV không những có nhiệm vụ giúp các em biết Chúa Kitô, mà còn phải liệu sao cho tinh thần của Tin Mừng được thấm nhập vào mọi chiều kích cuộc sống (x. Ad Gentes, 21), và cần khuyến khích các em kể câu chuyện về Chúa Giêsu cho người khác. Và đó là sứ mạng thiêng liêng, cao cả của GLV, vì “giúp người khác biết và mến Chúa mỗi ngày một hơn là một trong các khía cạnh hứng thú nhất của việc giáo dục.” 1

3. Nhưng, làm sao GLV có thể chu toàn nhiệm vụ trên? 
Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã chỉ cho chúng ta một bí quyết: Cần cố gắng trở nên “là” những giảng viên giáo lý, hơn là “làm” giảng viên giáo lý.
Ngài nói: “Là” giảng viên giáo Lý! Không “làm việc” như giảng viên giáo lý: việc này không ích lợi gì. Tôi làm việc như một giảng viên giáo lý vì tôi thích dạy [giáo lý]… Nhưng nếu không “là” giảng viên giáo lý, thì các con chẳng ích lợi gì! Các con sẽ không thành công… các con không đem lại hoa trái gì! Giáo lý là một ơn gọi: “là một giảng viên giáo lý”, đó là một ơn gọi, chứ không phải làm việc như một giảng viên giáo lý. Bởi thế, các con hãy ghi nhớ: cha không nói phải làm công việc của giảng viên giáo lý, nhưng phải “là” các giảng viên giáo lý, vì đây là một điều bao trùm trọn cả cuộc sống ta. Nó có nghĩa dẫn người ta tới gặp gỡ Chúa Kitô bằng lời và bằng cuộc sống ta, qua việc làm chứng […].”
“Là giảng viên giáo lý có nghĩa làm chứng cho đức tin, nhất quán trong cuộc sống bản thân của ta. Điều này không dễ! Ta giúp, ta dẫn người khác tới Chúa Giêsu bằng lời nói và cuộc sống ta, bằng chứng tá của ta. Cha thích nhắc lại điều thánh Phanxicô thành Assidi hay nói với các tu sĩ của ngài: “Hãy luôn rao giảng Tin Mừng; nếu cần, dùng lời lẽ”. Lời sẽ đến… nhưng chứng tá phải đến đầu tiên: người ta nên nhìn thấy Tin Mừng, đọc Tin Mừng trong cuộc sống ta. “Là” giảng viên giáo lý đòi phải có tình yêu, một tình yêu luôn lớn hơn đối với Chúa Giêsu, một tình yêu đối với dân thánh của Người. Và tình yêu này không thể mua ở các cửa tiệm, dù là tại Rôma. Tình yêu này phát xuất từ Chúa Kitô! Nó là hồng ân của Chúa Kitô! Và nếu phát xuất từ Chúa Kitô, nó cũng khởi đầu với Chúa Kitô, và ta cũng cần khởi đầu mới mẻ với Chúa Kitô, từ tình yêu Người dành cho ta.”
Và theo Đức Thánh Cha Phanxicô, một trong những ý nghĩa của việc khởi đầu mới mẻ từ Chúa Kitô là “gần gũi với Người”; “liên tục gắn bó với Người, ở trong Người, ở với Người, chuyện vãn với Người.” Và nhờ được kết hợp với Chúa Giêsu, như cành nho gắn liền với thân nho, chúng ta sẽ có khả năng đâm trái đâm bông.2

Kết luận:
Hội Thánh hiện hữu là để truyền giáo, theo lệnh truyền của Chúa Giêsu (Mc 16,16,15; Mt 28,19-20; GLHTCG, 849). Đó cũng là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách nhất của Hội Thánh, như Thánh Phaolô đã nói: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9,16); “Ước gì tôi chẳng hạnh diện về điều gì ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14); Miễn sao Đức Kitô được rao giảng” (Pl 1,18).
Là những GLV, qua mỗi lớp giáo lý, xin đừng quên nhắc nhở các em rằng truyền giáo là sứ mạng của mọi Kitô hữu; nhờ đó, ngay từ thuở nhỏ và trong những điều kiện giới hạn của mình, các em có thể bắt đầu ý thức bổn phận phải giới thiệu cho người khác biết về Chúa Giêsu, và cùng nhau tin yêu Ngài, bước theo Ngài để được ơn cứu độ, được sống đời đời.

Lm. An-rê Lương Vĩnh Phú


Thứ Bảy, 23 tháng 9, 2017

CÙNG HỌC GIÁO LÝ - THÁNG 9.2017

Bài 11

NHIỆM VỤ CƠ BẢN THỨ NĂM CỦA GLV:
GIÁO DỤC ĐỜI SỐNG CỘNG ĐOÀN
  

I . Kitô hữu cần phải được giáo dục về đời sống cộng đoàn

    “Mục đích tối hậu của việc dạy giáo lý là làm cho con người không những được tiếp xúc, mà còn được hiệp thông mật thiết với Chúa Giêsu Kitô; nhờ đó, con người được hiệp thông với Chúa Cha, với Chúa Thánh Thần, với Hội Thánh, và với nhân loại” (HDTQ 2017, 39).
Để đạt được mục đích tối hậu trên, qua việc dạy giáo lý, GLV cần giúp học viên của mình hiểu biết đức tin một cách có hệ thống, chính xác, đầy đủ; hiểu biết ý nghĩa và tham gia cách tích cực các cử hành phụng vụ thánh, nhất là Thánh lễ; thực hành các giới răn Chúa dạy trong đời sống hằng ngày; kết hợp mật thiết với Chúa bằng việc cầu nguyện liên lỉ, (như được trình bày từ bài 7 đến bài 10 trước đây).
      Ngoài những nhiệm vụ trên, theo hướng dẫn của Hội Thánh, GLV còn có bổn phận giáo dục các học viên của mình về đời sống cộng đoàn: “Đời sống Kitô hữu trong cộng đoàn không phải là ngẫu hứng nhưng phải được giáo dục cẩn thận” (HDTQ 1997, 86).

   II . Để trở nên một cộng đoàn hiệp thông và tham gia
    
         GLV cần giúp học viên xác tín rằng: qua Bí tích Rửa tội, người Kitô hữu được tháp nhập vào Đức Kitô, nhờ đó được trở nên con cái của Thiên Chúa và hiệp thông với thân thể Người, tức Hội Thánh (TYGLHTCG, 263). Chính trong sự hiệp thông này mà mỗi Kitô hữu có Thiên Chúa là Cha, có Hội Thánh là Mẹ và trở nên anh chị em của nhau. Không những thế, mỗi Kitô hữu còn được được lớn lên (nhờ Bí tích Thêm sức), được nuôi dưỡng (nhờ Bí tích Thánh Thể), và phong phú hóa nhờ các bí tích khác và toàn thể đời sống của Hội Thánh.
Như thế, nhờ sự hiệp thông với Hội Thánh Chúa Kitô mà mỗi Kitô hữu được lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Đó cũng chính là hoa trái, là kết quả của sự hiệp thông đức Tin, đức Cậy và đức Mến, hiệp thông Hội Thánh, yếu tố tạo nên chính bản tính của Hội Thánh (x.Tông Huấn Tại Á Châu, 25). Đức tin và đời sống của Kitô hữu, vì thế, dù mang tính cá vị, luôn phong phú, không bao giờ nghèo nàn, lẻ loi, cô đơn, như thực tế cho thấy: ta tuyên xưng đức tin như Hội Thánh tin; ta tham dự các cử hành mầu nhiệm thánh (Phụng vụ) như Hội Thánh cử hành; ta thực hành đời sống luân lý như Hội thánh dạy; và ta cầu nguyện như Hội Thánh cầu nguyện.
Dĩ nhiên, bên cạnh những quyền lợi được hưởng, nhờ sự hiệp thông Hội thánh, mỗi Kitô hữu cần ý thức về trách nhiệm của mình, bằng việc cố gắng tham gia, góp phần của mình vào việc xây dựng đời sống và sứ mạng của Hội Thánh, như Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phalô II dạy: “Sự hiệp thông Giáo Hội bao hàm rằng mỗi Giáo Hội địa phương phải trở nên điều mà các Nghị phụ Thượng Hội Đồng gọi là "một Giáo Hội tham gia" (participatory Church), có nghĩa là một Giáo Hội trong đó mọi người đều sống ơn gọi của riêng mình và chu toàn vai trò của mình” (Tông Huấn Tại Á Châu, 25).

 IIIMôi trường thể hiện đời sống cộng đoàn và những thái độ cần ghi khắc

Sự hiệp thông và tham gia với Hội thánh cần được thể hiện cách cụ thể và thiết thực tại môi trường sống, nơi mỗi cộng đoàn giáo điểm, giáo họ, giáo xứ, giáo phận, bao quanh Vị Chủ Chăn của mình, vì “Hội Thánh chân nhận giá trị của những cộng đoàn Giáo Hội cơ bản như là một phương thức hiệu nghiệm để cổ võ sự hiệp thông và tham gia trong các Giáo xứ và Giáo phận, và như là một lực lượng đích thực cho việc rao giảng Tin Mừng. Những nhóm nhỏ này giúp người tín hữu sống thành những cộng đoàn tin, cầu nguyện và yêu thương như các Kitô hữu thời đầu (x. Cv 2,44-47; 4,32-35). Các cộng đoàn này có mục đích là giúp đỡ các thành viên của mình sống Tin Mừng trong một tinh thần yêu thương huynh đệ và phục vụ, và do đó chúng là khởi điểm vững chắc để xây dựng một xã hội mới, một diễn tả của nền văn minh tình thương” (Tông Huấn Tại Á Châu, 25).
 Để có thể đạt được sự hiệp thông Hội thánh, bác ái huynh đệ, như Chúa Giêsu đòi hỏi: “Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34), bên cạnh việc huấn luyện nhân bản và tu đức, GLV phải đặc biệt chú ý đến giáo huấn của Chúa Giêsu về đời sống cộng đoàn, đó là: sống tinh thần đơn sơ và khiêm nhường (Mt 18,3); biết quan tâm đến những người bé mọn nhất (Mt 18,6); lưu tâm cách riêng đến những người lầm lạc (Mt 18,12); biết sửa lỗi cho nhau (Mt 18,18,15); biết cầu nguyện chung (Mt 18,19); và biết rộng lòng tha thứ cho nhau (Mt 18,22).
Đang khi giáo dục về đời sống cộng đoàn, việc dạy giáo lý, dĩ nhiên, cũng phải chăm lo đến chiều kích đại kết. Bác ái huynh đệ, như Chúa đã dạy, cần được mở rộng đến những thành viên của các Giáo hội và các cộng đoàn Kitô hữu khác, vì tuy có những khác biệt về nội dung và cách thức tuyên xưng đức tin…vẫn có những điều thiện hảo chung, như: “Lời Chúa đã được ghi chép, đời sống ân sủng, đức tin, đức cậy, đức mến, và các ân huệ nội tâm khác của Chúa Thánh Thần” (HDTQ 1997, 86). Hơn nữa, chính Chúa Giêsu cũng đã muốn như thế: “Để họ được nên một” (Ga 17,22). Tuy nhiên, cần phải lưu ý điều này: “Việc dạy giáo lý sẽ có một chiều kích đại kết trong mức độ nó biết khơi dậy và nuôi dưỡng ước muốn được hiệp nhất, không phải bằng một thái độ hòa giải dễ dãi, nhưng nhằm hiệp nhất hoàn toàn, khi Chúa muốn và bằng con đường Chúa muốn” (HDTQ 1997, 86).

Kết luận:

Giáo dục đời sống cộng đoàn là một trong sáu nhiệm vụ cơ bản của GLV. Về khía cạnh giáo dục này, điều quan trọng là GLV cần giúp học viên giáo lý nhận ra những quyền lợi và bổn phận của mình trong đời sống cộng đoàn của Hội thánh; đồng thời khơi dậy nơi họ tinh thần hiệp thông và tham gia với Hội thánh. Phải ưu tiên cỗ võ tinh thần và thái độ sống đời sống cộng đoàn mà Chúa Giêsu đã dạy, như được nêu trên. Hãy tập cho các em biết sống đời sống cộng đoàn (hiệp thông và tham gia) ngay từ những lớp học giáo lý vỡ lòng, bằng cách siêng năng thực thi những việc đơn sơ nhỏ bé, như: cầu nguyện, hy sinh, làm việc tông đồ; hăng hái tham gia vào các hội, như: giúp lễ, ca đoàn, hoặc Junior, …với tinh thần trách nhiệm. Thiết nghĩ, nếu ngay từ thưở nhỏ mà các em được huấn luyện như thế, thì khi lớn lên, các em sẽ dễ dàng tích cực hiệp thông và tham gia đời sống và sứ vụ của Hội thánh, để loan báo Tin mừng.

Lm. An-rê Lương Vĩnh Phú

Thứ Tư, 23 tháng 8, 2017

CÙNG HỌC GIÁO LÝ - THÁNG 8.2017

Bài 10

NHIỆM VỤ CƠ BẢN THỨ TƯ CỦA GLV:
DẠY CẦU NGUYỆN


I. Dạy cầu nguyện là bổn phận quan trọng của GLV.
Theo sự hướng dẫn của Hội Thánh,“việc dạy giáo lý cho thiếu nhi, thiếu niên và người trưởng thành đều phải hướng tới việc suy gẫm Lời Chúa trong kinh nguyện cá nhân, được hiện tại hóa trong kinh nguyện phụng vụ, và được nội tâm hóa trong mọi lúc, để sinh hoa kết quả trong một đời sống mới” (GLHTCG, 2688).
 Hội Thánh xem việc dạy cầu nguyện cũng quan trọng như bổn phận giúp hiểu biết đức tin, giáo dục phụng vụ, và huấn luyện luân lý vì thấy rằng “khi việc dạy giáo lý được thực hiện trong bầu khí cầu nguyện thì việc tập sống đời Kitô hữu đạt được tất cả chiều sâu của nó” (Hướng Dẫn Tổng Quát Việc Dạy Giáo Lý, 85).
Quả vậy, nhờ được chìm sâu trong bầu khí cầu nguyện mà việc tuyên xưng đức tin (Phần I: Tuyên Xưng Đức Tin), việc cử hành mầu nhiệm đức tin (Phần II: Cử Hành Mầu Nhiệm Kitô Giáo) và sống đức tin của chúng ta (Phần III: Đời Sống Trong Đức Kitô) có thể dẫn chúng ta “bước vào mối tương quan sống động, thân tình, và có quan hệ tâm giao với Chúa Kitô và Ba Ngôi Thiên Chúa ở mọi nơi mọi lúc trong suốt cả cuộc đời” (Youcat, Dẫn Nhập Vào Phần IV, 1, Trg 341).

II. Nhưng, cầu nguyện là gì?
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo Cho Người Trẻ (YOUCAT) cho chúng ta câu trả lời thật ý nghĩa và dễ hiểu: “Cầu nguyện là hướng lòng lên cùng Thiên Chúa. Khi một người cầu nguyện, họ đi vào trong sự liên kết sống động với Thiên Chúa ngay từ đời này, để mai sau được liên kết mặt đối mặt với Người”.
Và Youcat giải thích thêm: “…Người cầu nguyện không sống bởi chính mình, cho mình, và chỉ cậy dựa vào chính mình. Họ biết rằng có Thiên Chúa, Thiên Chúa đang ở đó, và ta có thể nói với Người. Người cầu nguyện càng ngày càng tin tưởng vào Chúa. Họ tìm ngay từ bây giờ để có được mối quan hệ và một ngày kia sẽ được đối mặt với Thiên Chúa. Vì thế đời sống Kitô hữu đòi hỏi họ phải cố gắng cầu nguyện mỗi ngày. Nói cho đúng, cầu nguyện không thể học được như ta học một kỹ thuật. Cầu nguyện thật lạ lùng quá đỗi, cầu nguyện là quà tặng ta nhận được từ Thiên Chúa (Youcat, 469; X. GLHTCG: 2558-2565).
Dựa vào gương cầu nguyện của các nhân vật quan trọng trong lịch sử cứu độ (như: Abraham, Môisen, các Tiên tri, các tác giả Thánh vịnh, Đức Maria, và trên hết là Chúa Giêsu), dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Hội Thánh cung cấp cho chúng ta 5 hình thức cầu nguyện, gồm: “chúc tụng, cầu xin, chuyển cầu, tạ ơn và ca ngợi” (GLHTCG, 2644; X. Youcat, Dẫn Nhập Vào Phần IV, 1). Và qua 5 hình thức cầu nguyện này, Kitô hữu có thể liên kết, hiệp thông với Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời chúng ta.

Cầu nguyện, vì thế, gắn liền với đời sống của chúng ta. Như “con người cần hít thở, ăn uống, yêu thương để sống, Kitô hữu cần cầu nguyện để được thanh tẩy, được sức chống lại cám dỗ, được mạnh mẽ khi yếu đuối, được thoát mọi nỗi sợ, được tăng cường sinh lực, và được hạnh phúc” (Youcat, Dẫn Nhập Vào Phần IV, 1/).
Bên cạnh 5 hình thức cầu nguyện trên, Hội Thánh còn chỉ ra những hình thức biểu lộ tâm tư nguyện cầu của chúng ta, tựa như 3 nẻo đường để hướng lòng ta về với Chúa, gồm: khẩu nguyện (cầu nguyện bằng lời nói); trí nguyện (cầu nguyện bằng suy nghĩ trong trí), và tâm nguyện (cầu nguyện bằng con tim). Nhờ những nẻo đường này mà Kitô hữu “có thể tiếp xúc, trao đổi, gắn bó, và hiệp thông với Thiên Chúa ở mọi nơi và mọi lúc” (Youcat, Dẫn Nhập Vào Phần IV, 3/).

III. Làm sao giúp các em yêu mến việc cầu nguyện?
Ngoài tác động của Chúa Thánh Thần (Đấng là Thầy dạy chúng ta cầu nguyện) và gương sáng về đời sống cầu nguyện của mình, GLV cần giúp các em nhận ra tầm quan trọng của việc cầu nguyện: Cầu nguyện giúp người Kitô hữu được hiệp thông với Thiên Chúa ngay từ cuộc sống đời này; và sự liên kết sống động với Chúa ở đời này giúp Kitô hữu được hiệp thông với Người ở đời sau.
Chỉ cho các em thấy rằng: người ta thường hãnh diện và hạnh phúc khi được kết thân với người này người kia, nhất là những người có thế giá, địa vị trong xã hội. Được liên kết mật thiết với Chúa trong đời sống cầu nguyện, vì thế, phải được coi là một niềm an ủi và hạnh phúc lớn lao cho ta, vì đối tượng ta đang liên kết sống động là chính Chúa: Chúa các chúa, Vua các vua. Biết Chúa và được thưa chuyện với Chúa là hồng ân Chúa ban, vì nếu Chúa không mời gọi, với bản tính con người yếu đuối, tội lỗi và bất xứng, không ai có thể nâng tâm hồn lên với Chúa và hiệp thông với Người được.
Từ đó, GLV cần giúp các em ý thức rằng: sống trên đời này, để cuộc sống được thêm phần phong phú, người ta cần thiết lập các mối quan hệ xã hội, như bản tính con người đòi hỏi. Tuy nhiên, việc liên kết, hiệp thông với Chúa luôn cần phải được xem là mục tiêu trước hết và trên hết của mọi Kitô hữu, vì chính Chúa đã phán: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Việc cầu nguyện thường xuyên giúp ta được lưu lại trong Chúa.

Ghi chú:
Theo sự chỉ dạy của Hội Thánh, “việc dạy giáo lý cũng là lúc để […] giáo dục đạo đức bình dân. Việc học thuộc lòng các kinh căn bản rất cần cho đời sống cầu nguyện; nhưng điều quan trọng là phải giúp người ta cảm nhận được ý nghĩa của những lời kinh này (GLHTCG, 2688), đặc biệt là Kinh Lạy Cha, “vì không có điều gì mà Lời Kinh Chúa dạy lại không chứa đựng và bao gồm” (Thánh Augustinô, GLHTCG, 2762). Ngoài ra, GLV cũng cần giúp các em nắm vững truyền thống cầu nguyện bằng những lời kinh bất hủ của Hội Thánh tại Việt Nam (Youcat, Dẫn Nhập Vào Phần IV, 2/).
GLV nên chịu khó học hỏi và nắm vững ý nghĩa sâu sắc và hiện sinh (nghĩa là gắn liền với đời sống) của việc cầu nguyện, bằng việc đọc trực tiếp tiếp các bản văn giáo lý về kinh nguyện Kitô giáo, như được trình bày trong các sách giáo lý: GLHTCG, TYGLHTCG, hoặc Youcat.

Lm. An-rê Lương Vĩnh Phú 


Thứ Tư, 26 tháng 7, 2017

ĐẠI HỘI GIÁO LÝ VIÊN GIÁO PHẬN PHAN THIẾT NĂM 2017

Đại Hội Giáo Lý Viên năm nay quy tụ 820 anh chị em đến từ các Giáo xứ trong 5 Giáo Hạt của Giáo phận Phan Thiết.
Từ 7 giờ sáng hôm nay ngày 26.7, Giáo Lý Viên từ mọi miền Giáo phận hân hoan quy tụ về Giáo xứ Bình An thuộc Giáo Hạt Hàm Tân, tham dự đại hội và mừng lễ bổn mạng Á Thánh Anrê Phú Yên – quan thầy GLV giáo phận.
Cha Anrê Lương Vĩnh Phú, chánh xứ Bình an và là Trưởng ban Giáo lý Giáo Phận cùng quý Thầy, quý Hội đồng mục vụ, giới Hiền mẫu, tổ chức đón tiếp niềm nở chu đáo và tận tâm phục vụ ân cần.


Về dự đại hội có sự hiện diện của Đức Cha Tôma Giám quản Giáo phận, Cha Tổng đại diện, cha giảng huấn Phêrô Nguyễn Văn Hiền (Giám đốc TTMV – TGP Sài Gòn), và 35 cha trong đó có quý cha đặc trách giáo lý các Giáo hạt, cùng đông đảo chủng sinh, quý tu sĩ nam nữ thuộc các hội dòng, tu đoàn trong Giáo phận.

Nghi thức khai mạc lúc 08g trong Nhà thờ. Sau đó, cha Phêrô đã thuyết trình về đề tài: “Được mời gọi hiệp thông để loan báo Tin mừng” với 3 ý chính:
- Đón nhận tình yêu
- Cảm nghiệm
- Trao ban.
Trước khi vào chủ đề chính, cha giảng huấn mời gọi một số GLV kể lại những biến cố xảy ra trong đời sống của mình và qua đó họ đã cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa đã dành cho mọi người. Sau đó ngài đã đúc kết: Thiên Chúa đã yêu thương bạn, Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước và khi ta cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa thì chúng ta hãy trao ban tất cả với tâm tình: “Lấy tình yêu đáp đền tình yêu”.

Đến 10g15, Đức Cha Tôma gặp gỡ GLV, ngài chúc mừng GLV trong ngày đại hội và ban giáo huấn:
- Giáo lý viên được mời gọi sống giáo lý và dạy giáo lý cho mọi người trong sự soi sáng của Chúa Thánh Thần.
- Giáo hội luôn cần đến GLV, người trẻ sẽ làm cho Giáo hội có sức sống trẻ.

Đến 11g00 Thánh lễ đồng tế mừng kính Á Thánh Anrê Phú Yên – Bổn mạng Giáo lý viên. Đức cha Tôma chủ tế và giảng lễ.

Sau thánh lễ đại diện ban giáo lý Giáo phận đã cám ơn Đức Cha, cha Tổng đại diện và quý cha đồng tế, cùng dâng lên Đức Cha và quý cha những lẵng hoa tươi thắm, biểu lộ lòng hiếu thảo của đoàn con GLV với quý chủ chăn.

12g30, sau khi ăn trưa, mọi người tập trung vào nhà thờ cùng nhau giao lưu văn nghệ với các vũ điệu sinh hoạt mục vụ giáo lý.

14g00, thuyết trình tiếp tục phần 2 với chủ đề của ngày đại hội, qua những kịch bản xãy ra thường ngày trong đời sống. Các GLV đặt câu hỏi và quý cha trả lời.  Sau đó GLV thảo luận theo nhóm và đúc kết thảo luận.

Ngày đại hội kết thúc vào lúc 16g00, mọi người ra về lòng hân hoan với quyết tâm thực hiện những lời giáo huấn của Đức Cha và Cha giảng huấn, với ước mong thăng tiến bản thân để góp phần xây dựng giáo hội qua sứ mạng loan truyền Lời Chúa nơi Giáo xứ thân yêu của mình.

BTT. Hàm Tân


Thứ Năm, 17 tháng 11, 2016

CÙNG HỌC GIÁO LÝ - THÁNG 11.2016

Bài 3

ĐẶC TÍNH QUY KITÔ TRONG HUẤN GIÁO


1.     “Qui Kitô” là gì?

-         “Qui Kitô” là một thuật ngữ có tính chuyên môn, được sử dụng cách đặc biệt  trong lãnh vực huấn giáo, nhằm chỉ ra một nguyên tắc quan trọng là: trong việc dạy giáo lý, ta phải để Chúa Giêsu Kitô ở vị trí trung tâm, như tâm điểm của một vòng tròn. Mọi yếu tố yếu tố khác, (từ nội dung, phương pháp đến mục đích) phải qui chiếu và hướng về Người.

-         Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo chỉ rõ: "Ở trung tâm của việc dạy giáo lý, chủ yếu chúng ta gặp một nhân vật: đó là Đức Giêsu Kitô Nazareth, Con Một của Chúa Cha … Người đã chịu khổ hình và chịu chết vì chúng ta; và Người, từ khi sống lại, luôn luôn sống với chúng ta…”

-         “Dạy giáo lý là giúp người ta nhận ra toàn bộ kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa trong con người Đức Kitô; là tìm hiểu ý nghĩa các hành động và lời nói của đức Kitô, và các dấu lạ người đã thực hiện, [nhằm] dẫn đưa con người đến hiệp thông với chúa Giêsu Kitô” (GLHTCG, 1992, 426).


2.     Tại sao phải qui về Chúa Kitô?

-         Vì chỉ một mình Người mới dẫn ta đến tình yêu Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần và cho ta thông dự vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh" (GLHTCG, 426).

-         Chính Chúa Giêsu đã phán: “Ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga.6,40). 


-         Ngoài Chúa Giêsu, không ai có thể mang lại cho con người ơn cứu độ  (CV. 4,12). Và, vì như Thánh Gioan quả quyết: “Những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga.20:30-31).


3.      Vì vậy, cần ghi nhớ:

- “Trong việc dạy giáo lý, phải giảng dạy Đức Kitô, là Ngôi Lời Nhập Thể và là Con Thiên Chúa” (GLHTCG, 427). Về điểm này, giáo lý viên cần cố gắng chỉ cho các em biết Chúa Giêsu Kitô là ai. Đây là việc làm rất quan trọng. Đồng thời, giúp các em tin yêu Người, bằng việc khuyến khích các em năng tìm hiểu Chúa trong Thánh Kinh, gặp gỡ Chúa qua việc cử hành các bí tích, nhất là Bí tích Thánh Thể, cố gắng sống theo lời Chúa dạy, và siêng năng cầu nguyện.

 - “Trong việc dạy giáo lý […] chỉ một mình Đức Ki-tô giảng dạy, còn bất cứ ai khác giảng dạy đều phải là phát ngôn viên của Người, phải để Đức Ki-tô nói qua miệng lưỡi họ... mọi giáo lý viên đều phải có thể áp dụng cho mình lời nói huyền nhiệm này của Đức Giê-su : ‘Đạo lý tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi’"(GLHTCH, 426).

 - “Người nào được mời gọi "giảng dạy về Đức Ki-tô" trước hết phải tìm "mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Ki-tô"; phải "mất hết ... để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người" (GLHTCG, 428). Thực tế cho thấy tham gia vào việc dạy giáo lý đòi hỏi giáo lý viên phải có những hy sinh nhất định, nhiều khi rất lớn lao. Nhưng vì lòng yêu mến Đức Kitô và phần rỗi các linh hồn, chúng ta hãy tích cực quảng đại tham gia với Mẹ Hội Thánh trong sứ vụ cao cả và rất quan trọng này.

Mong mỗi giáo lý viên chúng ta có tâm tình như Thánh Phaolô: “Đức Kitô được rao giảng là tôi mừng” (Pl 1,18).  


 Lm. An-rê Lương Vĩnh Phú

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Press Release Distribution